Can thiệp cùng chú ý

Bởi

Mô tả chung

Can thiệp cùng chú ý (joint attention intervention) đề cập đến hành vi khi hai cá nhân cùng tập trung một lúc vào một đối tượng hoặc hoạt động và chú ý lẫn nhau. Việc cùng nhau chia sẻ một hoạt động là một kỹ năng cơ bản trong giao tiếp và ứng xử xã hội nhưng không nhiều cá nhân mắc rối loạn tự kỉ có thể tự phát triển được kỹ năng này.

Thông tin cơ bản

Các can thiệp cùng chú ý đã được chứng tỏ là hiệu quả cho những trẻ:

– Từ 0-5 tuổi

– Được chẩn đoán mắc tự kỉ và các rối loạn phát triển lan tỏa khác

– Cần cải thiện kĩ năng giao tiếp và tương tác

Mô tả cụ thể

Can thiệp cùng chú ý thường sử dụng kết hợp các chiến thuật rút ra từ những phương pháp điều trị đã được kiểm chứng khác thông qua Dự án Các tiêu chuẩn quốc gia (National Standards Project). Các can thiệp cùng chú ý thường bao gồm:

– Rèn luyện thử nghiệm riêng biệt – là một phần trong Nhóm hành vi

– Lựa chọn và thúc giục- thuộc Nhóm tiền đề

– Làm mẫu

– Sử dụng mối quan hệ trực tiếp phản ứng-củng cố, thuộc vào nhóm Các chiến lược giảng dạy tự nhiên

 

Khi tập trung vào việc cùng chú ý, cần phải:

– Đặt mục tiêu rõ ràng: Bạn muốn khởi đầu một tương tác hay muốn đáp lại lời đề nghị từ người khác?

– Tìm ra những đồ vật mà trẻ thích

– Xác định môi trường tốt nhất để giáo dục trẻ. Những kỹ năng cùng chú ý sẽ được phát triển tốt nhất trong nhiều môi trường nơi trẻ thường có mặt một cách tự nhiên ( ví dụ như phòng khách ở nhà, sân chơi tự do ở trường hoặc ở công viên)

 

Có nhiều hình thức cùng chú ý, bao gồm:

– Nhìn theo ánh mắt nhìn của một người khác (ví dụ, cha mẹ nhìn vào một vật thể hay một sự kiện nào đó và đứa trẻ làm theo sự thay đổi ánh nhìn đó của cha mẹ)

– Cho người khác xem một đồ vật nào đó hoặc đáp lại khi ai đó giới thiệu một đồ vật.

– Chỉ vào một đồ vật, hoặc đáp lại khi ai đó chỉ vào một đồ vật

– Quan sát một hoạt động cùng nhau và sau đó quan sát phản ứng của người kia đối với sự kiện đang được quan sát.

 

Ví dụ

Thomas không đáp lại người khác khi mọi người cố gắng hướng sự tập trung của cậu bé vào các đồ vật. Mẹ của Thomas, cô Brown đã quyết định rằng cô muốn dạy cho con trai của mình phản ứng lại bằng cách nhìn vào một vật thể khi cô chỉ vào vật đó. Bởi vì cô muốn tạo động lực cho Thomas nên cô bắt đầu bằng việc tìm ra những thứ mà cô ấy biết là cậu bé sẽ muốn nhìn. Cô ấy đã quan sát Thomas nhiều lần và nhận thấy rằng cậu bé rất thích những đồ chơi có thể phát sáng, do đó cô đã chọn khá nhiều những loại đồ chơi này.

Cô Brown bắt đầu dạy con trai mình bằng cách đặt một trong những đồ chơi phát sáng trên sàn phòng khách. Sau đó cô ấy đặt tay gần với mặt của Thomas và chỉ tay vào đồ chơi phát sáng. Khi Thomas nhìn theo ngón tay của cô ấy, cô ấy dẫn dắt Thomas nhìn vào đồ chơi. Sau đó cô ấy làm cho đồ chơi đó hoạt động và hướng dẫn cậu bé quay lại nhìn cô ấy. Cô ấy biết rằng Thomas cần học cả 2 việc là nhìn vào đồ vật và sau đó quay lại nhìn cô ấy để họ có thể cùng chia sẻ trải nghiệm.

Cô ấy lặp lại quá trình này nhiều lần. Cuối cùng, khi cô ấy chỉ vào đồ chơi phát sáng, Thomas nhìn vào đồ chơi đó và quay lại nhìn mẹ cậu bé mà không cần bất kể sự hướng dẫn nào cả. Cô Brown sẽ sử dụng phương pháp này với những đồ vật khác để đảm bảo rằng Thomas học cách quan sát bất cứ khi nào cô ấy chỉ vào các đồ vật chứ không chỉ mỗi những đồ vật phát sáng.

Cô Brown cũng để chị gái 8 tuổi của Thomas tham gia vào hoạt động này. Chúng học cách lần lượt thay phiên nhau chỉ vào vật thể và chuyển đổi sự chú ý từ vật thể sang đứa kia. Bằng cách này, Thomas sẽ không chỉ học được cách phản ứng lại khi mẹ cậu bé chỉ tay mà cả khi người khác chỉ tay nữa.

Nhóm Dịch CLB RUBIC

Nguồn: A Parent’s Guide to Evidence-Based Practice and Autism

Bạn cũng có thể thích

Chat hỗ trợ
Chat ngay