Câu 49. Tẩy độc là gì?

Bởi
Nhiễm độc các kim loại nặng có thể gây ra rất nhiều vấn đề trong đó có cả tổn thương đến các cơ quan trong cơ thể và bộ não.  Trị liệu tẩy độc được dùng để điều trị việc bị phơi nhiễm với những chất độc hại như vậy.
Tẩy độc là dùng các hóa chất điều chế để vô hiệu hóa vài loại kim loại nặng có trong cơ thể ở nồng độ độc hại. Những loại thuốc này có thẻ được tiêm vào ven, cơ, hoặc uống qua đường miệng.  Chúng sẽ vo hiệu hóa các chất độc hại và sau đó thải ra ngoài cơ thể qua đường nước tiểu hoặc phân.  Liệu pháp tẩy độc được nghĩ ra đầu tiên bởi Hải quân Mỹ như là một cách để lấy đi các kim loại độc hại từ cơ thể của các nhân viên quân đội bị phơi nhiễm với chì nồng độ cao những năm 1940. Từ đó, nó còn được dùng cho cả những người bị phơi nhiễm với sơn chì và các phơi nhiễm khác trong môi trường. Các chất tẩy độc đã được FDA cấp phép, nhưng chỉ với chỉ định thuốc rất hạn hẹp. Liệu pháp tẩy độc được chỉ định thuốc khi bệnh nhân bị phơi nhiễm với kim loại nặng ở mức độ độc hại như là sắt, thạch tín, chì và thủy ngân. Đây cũng là cách điều trị được American Academy of Family Practice và American Academy of Pediatrics khuyên dùng cho mục đích này. Điều kiện để dùng liệu pháp tẩy độc này là :
● Nhiễm độc chì thường hay gặp ở trẻ nhỏ sống trong những ngôi nhà cũ có bụi hoặc mạt sơn chì. Phơi nhiễm khi làm việc (hàn thiếc, xì, luyện kim, tái tạo ắc quy) cũng là một nguy cơ. Sàng lọc nồng độ chì cho trẻ giờ đã trở thành một phần tiêu chuẩn của những lần thăm khám bác sỹ ở nhiều bang của Mỹ.
  • nhiễm độc thủy ngân hầu như luôn luôn xảy ra với phơi nhiễm nghề nghiệp có nguy cơ cao bao gồm người làm nha khoa, các nhà sản xuất pin và nhiệt kế, thuộc da / nhồi bông, và hải sản ô nhiễm.
● nhiễm độc thạch tín thường xảy ra khi phơi nhiễm với thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc độc cho loài gặm nhấm, thuốc thú y điều trị nhiễm ký sinh trùng, hoặc ngộ độc có chủ ý. ● nhiễm độc sắt thường xảy ra khi một đứa trẻ nuốt quá liều viên sắt. Viên sắt được sử dụng như là chất bổ sung khẩu phần sắt trong điều trị các bệnh nhân có công thức tế bào máu thấp (thiếu máu). Mặc dù có rất nhiều loại kim loại nặng khác (cadmium, mangan, nhôm, coban, kẽm, niken, đồng, và magiê) có thể gây bệnh khi bệnh nhân được tiếp xúc với liều cao, những phơi nhiễm cực kỳ hiếm gặp.

Các chất tẩy độc (chất tạo phức) thường gặp bao gồm: ● Desfuroxamine mesylate: được sử dụng cho nhiễm độc sắt; truyền tĩnh mạch là đường dùng thuốc ưu tiên ● Dimercaprol (BAL): tác nhân ưu tiên cho điều trị nhiễm độc thạch tín và thủy ngân, arsenic, qua đường tiêm bắp. ● DMSA: một chất tương tự Dimercaprol có thể được dùng đường uống cho nhiễm độc chì và thạch tín. ● D-penicillamine: chất tẩy độc đường uống, sử dụng cho nhiễm độc chì, thạch tín hay thủy ngân; rất ít tốn kém nhưng không hiệu quả như DMSA ● Calcium disodium versante (CaNa2-EDTA): có thể được sử dụng kết hợp với BAL trong nhiễm độc chì; EDTA không bao giờ được sử dụng đơn độc trong điều trị nhiễm độc chì vì thuốc chỉ tẩy được chì ngoại bào, mà không tẩy được chì nội bào.

● Succimer: một chất tẩy kim loại nặng hoạt tính đường uống, được chỉ định để điều trị nhiễm độc chì ở trẻ em
Chẩn đoán nhiễm độc kim loại nặng là nghiêm trọng và phải được thực hiện bởi một bác sĩ dựa vào triệu chứng lâm sàng kết hợp với các xét nghiệm. Các chất tẩy độc có thể độc, gây phát ban và tổn thương gan và thận cũng như ức chế tủy xương với công thức bạch cầu thấp (giảm bạch cầu). Trong khi không có hiệu quả trên các bệnh như xơ vữa động mạch, Alzheimer, Parkinson, hoặc tự kỷ, các tác nhân này có thể loại bỏ các kim loại thiết yếu khác trong máu như sắt, kẽm, đồng, và magiê. Sự thiếu chất do các chất tẩy độc gây ra có thể có tác dụng bất lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, không nên sử dụng các chất tẩy độc trừ khi ngộ độc kim loại nặng được chẩn đoán bởi một phòng thí nghiệm có uy tín và việc điều trị được theo dõi bởi một bác sĩ có đủ trình độ chuyên môn. Ghi chú: chất tẩy độc là 1 loại protein có khả năng liên kết với các kim loại nặng trong máu. Khi liên kết với kim loại, thuốc tạo ra một hợp chất được loại bỏ khỏi cơ thể trong nước tiểu.
Người dịch: Nguyễn Phương Thảo

Bạn cũng có thể thích

Chat hỗ trợ
Chat ngay