Peers Training – Phương pháp phát triển kỹ năng xã hôi cho trẻ tự kỷ thông qua các bạn của trẻ (Phần I)

Bởi

Peers Training (Huấn luyện từ bạn cùng lứa) là gì?

Nhiều nghiên cứu trong những năm qua đã chỉ ra vai trò  của các bạn đồng trang lứa trong việc phát triển các kỹ năng xã hội của trẻ tự kỷ. Theo đó, khi người lớn (thầy cô, cha mẹ,…) chỉ đóng vai trò người hướng dẫn gián tiếp, bạn bè của trẻ có thể làm mẫu những kỹ năng tương tác xã hội trong những hoàn cảnh gần gũi và tự nhiên hơn. Hiện tại, có rất nhiều chương trình can thiệp đã được kiểm chứng, trong đó các bạn của trẻ tự kỷ trở thành “bạn cùng tiến” hoặc “người hướng dẫn” cho chính bạn của mình. Các cách tiếp cận này bao gồm việc hướng dẫn và khuyến khích cả lớp, một nhóm bạn, hoặc một người bạn cụ thể cách tổ chức trò chơi, chia sẻ, giúp đỡ, và khen ngợi một người bạn tự kỷ trong lớp. Đối với trẻ trong độ tuổi 3-8, các hoạt động này giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ, và kỹ năng xã hội cơ bản. Đối với trẻ lớn hơn (9-18 tuổi), việc áp dụng phương pháp này ở nhiều lớp học khác nhau hay trong những môi trường ngoài lớp học sẽ giúp trẻ phát triển kỹ năng xây dựng các mối quan hệ. Phương pháp này có thể được áp dụng theo những cách khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của trẻ và những điều kiện sẵn có trong mỗi lớp học.

Andrew năm nay 8 tuổi, và em thường tỏ ra không có hứng thú chơi với các bạn. Tuy em rất thích xem các bạn chơi bóng đá, nhưng mỗi khi đến giờ nghỉ, em thường chỉ ngồi ở bên ngoài sân chơi, lắc lư người và chăm chú quan sát các bạn chơi. Cô giáo của em nhận ra điều này và quyết định tham khảo ý kiến của một chuyên gia về hành vi để thiết kế một chương trình theo phương pháp can thiệp từ bạn cùng lứa. Cô giáo chọn ra 4 người bạn của Andrew – đây là những học sinh ngoan và có kỹ năng xã hội tốt ở trong lớp. Cô hướng dẫn cho các bạn cách tiếp cận Andrew và giúp đỡ em tham gia chơi bóng đá. Cô giáo cũng hướng dẫn cho Andrew cách trả lời lại khi các bạn trong lớp rủ em chơi cùng, cách chơi với các bạn, và cách xin rút lui khi em cảm thấy mệt. Khi thời điểm phù hợp tới, cô giáo để cho nhóm bạn của Andrew rủ em chơi bóng, và cô giám sát tương tác giữa các trẻ. Cô chỉ giúp đỡ khi nào thực sự cần thiết để không ảnh hưởng tới tương tác tự nhiên giữa Andrew và các bạn, thông qua những gợi ý nhỏ nhất để giúp Andrew chơi với các bạn một cách hiệu quả. Với những thành công ban đầu, cô giáo dự định sẽ mở rộng chương trình này trong nhiều tình huống khác nhau để giúp Andrew phát triển các kỹ năng xã hội khác như: chơi các trò chơi khác trong giờ nghỉ, khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, hoặc cùng ăn trưa với các bạn trong lớp.

Lợi ích đối với học sinh và giáo viên:

Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên của phương pháp này đối với trẻ tự kỷ, không thể không kể tới những lợi ích đối với bạn bè của trẻ cũng như với thầy cô giáo. Phương pháp này khuyến khích kỹ năng làm việc nhóm và dạy học sinh cách giúp đỡ bạn bè khi cần thiết, hiểu và thông cảm với những điểm khác biệt của bạn bè mình, và có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn bạo lực học đường. Ngoài ra việc khuyến khích và hướng dẫn các học sinh trong lớp giúp đỡ lẫn nhau cũng làm giảm bớt áp lực đối với giáo viên và các nhà chuyên môn.

Theo một khảo sát trên các học sinh tham gia vào các chương trình theo phương pháp huấn luyện từ bạn cùng lứa , 83% học sinh nói rằng các em “Rất thích tham gia,” và 17% còn lại nói rằng các em “Thích tham gia”.” Không những thế, 89% học sinh nói rằng việc tham gia và chương trình này mang lại nhiều lợi ích cho bản thân các em, và đã liệt kê một loạt những “bài học” như: hiểu thêm về tự kỷ, trở nên kiên nhẫn hơn, hiểu hơn về sự khác biệt giữa mỗi người, tự tin hơn, có trách nhiệm hơn, và biết trân trọng cuộc sống hơn. Những tác động tích cực này cũng được ghi nhận bởi phụ huynh của trẻ. 57% phụ huynh cho rằng việc tham gia hoạt động như vậy là “quan trọng” và 36% rằng điều đó “vô cùng quan trọng” (Jones, 2007).

Tham khảo: Jones, V. (2007). ‘I Felt Like I Did Something Good’ – The Impact on mainstream Pupils of a Peer Tutoring Programme for Children with Autism. British Journal of Special Education, 34, (1), 3 – 9.

Kỳ sau: Áp dụng phương pháp Huấn luyện từ bạn cùng lứa và một số lưu ý

Nhóm Dịch – CLB RUBIC

Tổng hợp và dịch từ: http://www.iidc.indiana.edu/?pageId=3597 và A Parent’s Guide to Evidence-Based Practice and Autism

Bạn cũng có thể thích

Chat hỗ trợ
Chat ngay