Tự kỷ, rối loạn phổ tự kỷ

Bởi

(Autism / Autistic Spectrum Disorder)

Trần Văn Công, ĐT: 0918690186, Email: tranvancong@gmail.com

Hà nội, ngày 26 tháng 12 năm 2012

Khái niệm và đặc điểm

Tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển về thần kinh được đặc trưng bởi sự suy yếu của tương tác xã hội và giao tiếp, và bởi hành vi và sở thích / thói quen định hình và lặp lại. Các triệu chứng của tự kỷ phải khởi phát trước 3 tuổi. Tỉ lệ trẻ mắc tự kỷ được ước tính trên toàn thế giới là khoảng 1/100, riêng ở Mỹ là 1/88. Tỉ lệ Nam:Nữ là 4:1.

Ba lĩnh vực suy yếu:

  • Suy yếu tương tác xã hội: Hành vi phi ngôn ngữ (không hoặc hạn chế nhìn mắt, không hoặc hạn chế chỉ tay, không hoặc rất ít sự chú ý đồng thời…); Chia sẻ (không có nhu cầu chia sẻ cảm xúc nếu thấy cái gì đó mới, lạ, đáng sợ; không có nhu cầu chú ý từ người khác); Tính chất qua lại / trao đổi trong quan hệ; Hiểu cảm xúc (không nhận biết được người khác vui hay buồn, mẹ đang ốm và buồn nhưng trẻ vẫn có thể chạy nhảy cười); Không có hoặc thiếu tình bạn/không chơi với bạn cùng lứa (trẻ không hứng thú, không thích tương tác, nói chuyện và chia sẻ với người khác, không có bạn bè. Trẻ có thể né tránh tiếp xúc với người khác.)
  • Suy yếu giao tiếp: nhiều người tự kỷ không thể nói hoặc chỉ nói được một số từ; chậm ngôn ngữ hoặc không thể duy trì giao tiếp; kể cả khi trẻ có thể giao tiếp thì cách nói chuyện thường lạ, ít sự tiếp nối, không gây hứng thú, không đúng cách và gây chán cho người khác; Sử dụng ngôn ngữ rập khuôn hoặc lạ/vô nghĩa, ví dụ lặp lại một đoạn quảng cáo hoặc chương trình phát thanh.
  • Hành vi định hình lặp lại: Những vận động cơ thể kỳ lạ ở tay hoặc toàn bộ cơ thể (vẫy tay hoặc quay tròn); những hứng thú/sở thích kỳ lạ (sự tập trung hoặc cường độ); lịch trình (sinh hoạt/cách thức) cứng nhắc và không có chức năng thích nghi, khó chịu khi lịch trình bị phá vỡ (ví dụ chỉ chấp nhận ăn món nào đó, ngủ với chiếc chăn nào đó hoặc đi học bằng con đường nào đó…).

Những vấn đề khác:

  • 30%-40% trẻ tự kỷ bị động kinh
  • Không biết chơi giả vờ, tưởng tượng (gọi điện thoại giả vờ, chơi đóng vai cô dâu chú rể…)
  • Không biết chơi đồ chơi đúng cách (quay bánh xe ôtô thay vì đẩy đi đẩy lại)
  • Không thể hoặc rất khó khăn trong bắt chước
  • Rất khó tiếp thu được một kỹ năng và thường quên nếu không được nhắc lại
  • Khó khăn giấc ngủ: khó vào giấc, ngủ không sâu, ít ngủ, thức nửa đêm…
  • Chậm phát triển trí tuệ/tâm thần: từ 25 đến 75%
  • Các phản ứng kỳ lạ đối với các kích thích vật lý (cơ thể), ví dụ như ngửi hay sờ
  • Ăn uống bất thường: chỉ thích món nào đó hoặc từ chối ăn một số món
  • Phản ứng cảm xúc bất thường, ví dụ vừa hờn giận xong rồi lại ngồi cười khanh khách.
  • Tự gây tổn thương, ví dụ cắn tay chân.
  • Có thể có khả năng đặc biệt (rất hiếm và thường ít có ích): ví dụ có thể nhớ được tất cả mọi con số xuất hiện trên bảng thông tin hay tờ giấy dày đặc.

Nguyên nhân: Cho đến nay người ta chưa biết tất cả về nguyên nhân của tự kỷ, ngoại trừ việc có vẻ như nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra những loại tự kỷ khác nhau. Những nguyên nhân này có thể bắt nguồn từ môi trường, sinh học và gen di truyền.

Không có hai trẻ tự kỷ giống nhau, mỗi trẻ lại có những vấn đề, điểm mạnh, điểm yếu rất khác nhau

Tự kỷ là dạng rối loạn mang tính lan tỏa và bao trùm lên toàn bộ sự phát triển và cuộc sống của một con người, từ khía cạnh thể chất, tâm lý, và xã hội.

Can thiệp – Điều trị

  • Chưa có phương thức điều trị chữa khỏi tự kỷ
  • Mỗi phương pháp đều có điểm yếu và điểm mạnh
  • Không có phương pháp nào là tốt nhất hay phù hợp nhất cho tất cả mọi trẻ và mọi gia đình
  • Một phương pháp duy nhất không giải quyết được mọi vấn đề của trẻ
  • Cũng không có phương pháp nào hiệu quả trong suốt cuộc đời trẻ

Do chưa rõ về nguyên nhân và có nhiều suy yếu khác nhau và phức tạp, nhiều phương pháp điều trị tự kỷ đã được đưa ra. Sau đây là các nhóm phương pháp điều trị tự kỷ phổ biến:

Nhóm phương pháp dựa trên Phân tích hành vi ứng dụng (ABA): Cải thiện về nhận thức, khả năng ngôn ngữ, và hành vi thích nghi; Tuy vậy, ít quan tâm tới tính cá nhân và riêng biệt của từng trẻ, cảm xúc và kết nối với người khác.

Nhóm phương pháp dựa trên sự phát triển và tính cá nhân (Floortime): Trẻ tiến bộ ở các lĩnh vực mà Floortime tập trung vào như cảm xúc, giao tiếp và quan hệ với người khác, và cho thấy tiềm năng rất lớn của phương pháp này cho tự kỷ.

Nhóm phương pháp kết hợp (ESDM): Đây là phương pháp rất triển vọng, và đã chứng minh được hiệu quả trong cải thiện khả năng nhận thức (trí tuệ), khả năng ngôn ngữ, và hành vi thích nghi, và giảm thiểu các triệu chứng tự kỷ.

Nhóm phương pháp hỗ trợ về giao tiếp: PECs: giúp phát triển ngôn ngữ trong ngắn hạn; VBA (Vicent Carbone, website: http://www.carboneclinic.com) hiệu quả trong việc phát triển ngôn ngữ của người bị tự kỷ và các rối loạn phát triển khác.

Dùng thuốc: Các phương pháp điều trị bằng thuốc cho thấy ít nhiều hiệu quả trong việc điều trị một số vấn đề hành vi ở trẻ tự kỷ như hành vi định hình lặp lại, hành vi chống đối, hành vi tăng động; Nhóm thuốc chống loạn thần (ví dụ Risperidone và Aripiprazole): giảm hành vi có vấn đề, hành vi lặp lại, hành vi tăng động và chống đối, tuy nhiên những thuốc này có tác dụng phụ như tăng cân, mệt mỏi/ủ rũ.

Điều trị dinh dưỡng – sinh học: Các phương pháp thay đổi chế độ ăn, bổ sung chất, bổ sung vitamin: những nghiên cứu về các phương pháp này có kết quả pha trộn giữa hiệu quả và không hiệu quả, nói chung bằng chứng về hiệu quả thấp và chưa thuyết phục; Trị liệu cảm giác, trị liệu âm nhạc, thở ôxy cao áp mặc dù được sử dụng ở một số gia đình, chuyên gia, cơ sở và dịch vụ điều trị, nhưng đều chưa chứng minh được hiệu quả;

Ngoài ra, còn hàng trăm phương pháp khác điều trị, can thiệp và giáo dục tự kỷ được đưa ra, hầu hết đều chưa được nghiên cứu, chứng minh hiệu quả ở Mỹ và trên thế giới.

Can thiệp, điều trị tự kỷ thường bao gồm nhiều bên tham gia, trong đó gia đình là trung tâm. Sơ đồ dưới đây là các bên tham gia của phương pháp ESDM:

 

Phương pháp can thiệp tự kỷ:

  • Cần nhiều thời gian, tối ưu là 8 giờ/ngày can thiệp liên tục
  • Tránh để trẻ ở một mình, nên luôn có người tương tác, nói chuyện và chơi cùng trẻ mọi thời gian mà trẻ thức.
  • Tập trung vào những suy yếu cốt lõi của trẻ như ngôn ngữ (trị liệu âm ngữ), tương tác xã hội (floortime), điều hòa cảm giác (hoạt động trị liệu), kỹ năng (phân tích hành vi ứng dụng).
  • Bẻ nhỏ một kỹ năng ra thành nhiều phần và dạy cho đến khi nào trẻ thuần thục mới chuyển sang kỹ năng khác.
  • Nhắc đi nhắc lại kỹ năng đã được học.

Bạn cũng có thể thích

Chat hỗ trợ
Chat ngay